Tăng giảm cỡ chữ:

Công văn số 2459/QLĐĐ-KSQLSĐĐĐ do Cục Quản lý đất đai đáp trực tiếp phản ánh và kiến nghị của công dân Nguyễn Văn Công (được tiếp nhận thông qua Hệ thống thông tin của Bộ Tư pháp) đối với thực trạng thiếu hụt các tiêu chí cụ thể để xác định hành vi vi phạm pháp luật đất đai.

Mục tiêu cốt lõi của Công văn là tập trung giải quyết triệt để “điểm nghẽn” trong khâu xét duyệt hồ sơ, đặc biệt là việc phân định rạch ròi ranh giới giữa hai trạng thái “có vi phạm” và “không có vi phạm” đối với các thửa đất không có giấy tờ. Việc này đóng vai trò then chốt, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Đồng thời, để đảm bảo tính minh bạch và thống nhất trong công tác quản lý, văn bản cũng đã xây dựng và chỉ rõ các yếu tố cấu thành pháp lý cụ thể để nhận diện một số hành vi vi phạm pháp luật đất đai phổ biến trên thực tế.

Nội dung trọng tâm của công văn

​Công văn chia vi phạm thành 2 nhóm: Vi phạm về quản lý đất đai và vi phạm về sử dụng đất. Việc vạch rõ ranh giới này giúp cơ quan thực thi áp dụng đúng luật, đúng đối tượng. Tránh tình trạng nhầm lẫn chế tài khi lập biên bản hay ra quyết định xử phạt.

​​Pháp luật không quy định tiêu chí chung cho mọi hành vi vi phạm, mỗi hành vi có tiêu chí riêng. Đặc biệt, nếu không đủ căn cứ cụ thể theo luật thì không thể kết luận là vi phạm pháp luật đất đai. Đây là nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người dân.

MN

​Việc xác định sai mục đích bắt buộc phải căn cứ vào Giấy chứng nhận, quyết định giao/thuê đất hoặc các loại giấy tờ theo Điều 137 Luật Đất đai. Nếu thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận, không có quyết định giao/thuê hay không có bất kỳ giấy tờ nào theo Điều 137 thì không xác định là hành vi sử dụng đất sai mục đích.

Đây được xem như là “chìa khóa” tháo gỡ cho hàng loạt hồ sơ thực tế. Rất nhiều người dân khai hoang, cất nhà trên đất trống từ xưa (trước 1993 đến 2014) mà không có bất kỳ giấy tờ gì. Khi đi làm sổ đỏ dễ bị đưa vào trường hợp “sử dụng đất sai mục đích”. Công văn khẳng định: Nếu nhà nước chưa từng có giấy tờ xác lập mục đích ban đầu của mảnh đất đó, thì không có hệ quy chiếu để nói người dân dùng “sai”.

​Đối với trường hợp xin cấp sổ đỏ mà không có giấy tờ theo Điều 137: Sau khi rà soát theo các tiêu chí trên, nếu xác định không vi phạm thì thực hiện theo Điều 138; trường hợp có vi phạm thì thực hiện theo Điều 139 Luật Đất đai.

Qua thực tiễn triển khai, quá trình tiếp nhận và xử lý hồ sơ đã bộc lộ một số vướng mắc lớn từ phản ánh của người dân, cụ thể như sau:

  • Thứ nhất, tồn tại khoảng trống pháp lý trong việc nhận diện hành vi:

Hiện nay, Luật Đất đai 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa quy định một định nghĩa chung hay ban hành bộ tiêu chí cụ thể để xác định các hành vi vi phạm pháp luật đất đai (như hành vi lấn, chiếm, hay sử dụng đất sai mục đích…). Sự thiếu hụt cơ sở pháp lý này đã tạo ra một khoảng trống lớn, khiến các cơ quan hành chính nhà nước lúng túng, e ngại và gặp nhiều khó khăn trong việc đưa ra kết luận chính thức về việc thửa đất có vi phạm hay không.

  • Thứ hai, nghịch lý đối với các trường hợp đất không có giấy tờ (giai đoạn trước năm 2014):

Thực tiễn ghi nhận rất nhiều trường hợp người dân đã sử dụng đất từ trước năm 1993, với hiện trạng ban đầu là đất nông nghiệp. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ sau năm 1993 đến trước năm 2014, diện tích đất này đã được người dân tự chuyển đổi sang đất ở. Hậu quả là hiện tại, những thửa đất này không có các loại giấy tờ chứng minh nguồn gốc theo quy định tại Điều 137 Luật Đất đai.

  • Thứ ba, “điểm nghẽn” trong tư duy quản lý và giải quyết hồ sơ:

Từ nghịch lý trên đã nảy sinh một “điểm nghẽn” pháp lý cốt lõi: Nếu cơ quan nhà nước muốn quy kết người dân có hành vi “sử dụng đất sai mục đích”, thì theo nguyên tắc, Nhà nước phải đưa ra được các văn bản, tài liệu chứng minh rằng thửa đất này trước đây đã được cơ quan có thẩm quyền giao, cho thuê hoặc công nhận với một mục đích sử dụng ban đầu cụ thể.

Trong trường hợp Nhà nước hoàn toàn không có bất kỳ giấy tờ hay hồ sơ lưu trữ nào để chứng minh mục đích sử dụng ban đầu, người dân hoàn toàn có căn cứ để đặt ra câu hỏi: Liệu tình trạng này có đủ điều kiện để được xem là “không vi phạm pháp luật đất đai”, từ đó giúp cơ quan chức năng tiến hành cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 138 hay không?

Tiêu chí và yếu tố cấu thành để xác định hành vi vi phạm

Nguyên tắc chung, pháp luật đất đai không quy định tiêu chí chung cho mọi hành vi, mỗi hành vi vi phạm sẽ có tiêu chí và yếu tố cấu thành riêng biệt.

Hành vi vi phạm Căn cứ và yếu tố cấu thành Kết luận/hướng xử lí
Sử dụng đất không đúng mục đích Căn cứ vào mục đích sử dụng đất được thể hiện trên GCNQSDĐ, quyết định giao đất, cho thuê đất, hoặc các loại giấy tờ theo Điều 137 Luật đất đai 2024 Có vi phạm: nếu có giấy tờ pháp lí xác định mục đích nhưng tự ý thay đổi (vd: trên sổ ghi đất trồng lúa nhưng nhưng lại tự ý xây nhà)
Lấn đất, chiếm đất Căn cứ quy định tại khoản 9 và 31, Điều 3 luật Đất đai

Căn cứ quy định tại Điều 13 Nghị định 123 NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Đối chiếu hiện trạng với quy định cụ thể của pháp luật để xác định hành vi

Trường hợp không đủ căn cứ cụ thể xác định có hành vi vi phạm thì ko thể kết luận là hành vi vi phạm

Hủy hoại đất Có hành vi tác động vật lí vào đất làm thay đổi hiện trạng (đào, đắp, sang, gạt….)

Gây hậu quả xấu đối với đất (làm biến dạng địa hình, suy giảm chất lượng, gây ô nhiễm, làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng theo mục đích đã xác định

Có vi phạm: nếu làm mất mục đích sử dụng ban đầu (vd: đất trồng cây lâu năm mà đem đi làm nhà)

Không vi phạm: nếu có tác động nhưng ko làm biến dạng địa hình quá mức, vẫn phù hợp với mục đích sử dụng

Hướng giải quyết cấp Giấy chứng nhận cho thửa đất không có giấy tờ (Điều 137): Cơ quan chức năng phải rà soát, đối chiếu với các tiêu chí để xác định rõ thửa đất đó có vi phạm pháp luật đất đai hay không.

Trong quá trình xem xét, giải quyết các hồ sơ liên quan đến quyền sử dụng đất, việc đánh giá tình trạng vi phạm pháp luật đất đai cần được tiến hành một cách khách quan, minh bạch và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật. Cụ thể, hướng xử lý được phân định rõ theo hai trường hợp sau:

Đối với trường hợp xác định không có vi phạm:

Nếu qua quá trình xác minh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định người sử dụng đất hoàn toàn tuân thủ, không có bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật đất đai nào trong suốt quá trình quản lý, sử dụng đất, thì quyền lợi hợp pháp của họ phải được bảo đảm. Khi đó, cơ quan chức năng có trách nhiệm thực hiện thủ tục công nhận quyền sử dụng đất và tiến hành cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo đúng các quy định tại Điều 138 Luật Đất đai.

Đối với trường hợp xác định có vi phạm:

Ngược lại, nếu có đầy đủ căn cứ pháp lý và hồ sơ chứng minh người sử dụng đất đã có hành vi vi phạm (như lấn chiếm, chuyển mục đích sử dụng trái phép…), vụ việc phải được đưa ra xem xét và xử lý nghiêm minh. Mọi biện pháp giải quyết, khắc phục hậu quả hoặc công nhận quyền sử dụng đất (nếu đủ điều kiện) sau đó đều phải được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 139 Luật Đất đai.

Về việc áp dụng nguyên tắc “Suy đoán vô tội” trong công tác quản lý đất đai Một nguyên tắc cốt lõi cần được quán triệt xuyên suốt là nghĩa vụ chứng minh vi phạm thuộc về cơ quan quản lý nhà nước. Dựa trên tinh thần của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và pháp luật đất đai, việc kết luận một cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm phải dựa trên các chứng cứ rõ ràng, cụ thể và hợp pháp.

Trong trường hợp cơ quan chức năng không thu thập đủ tài liệu, chứng cứ hoặc không có căn cứ xác đáng để chứng minh, thì tuyệt đối không được suy diễn hay kết luận chủ quan là người dân vi phạm pháp luật đất đai. Điều này nhằm ngăn chặn tình trạng lạm quyền, đồng thời bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

Kết luận

Có thể khẳng định, Công văn số 2459/QLĐĐ-KSQLSĐĐĐ đóng vai trò then chốt trong việc tháo gỡ “nút thắt” pháp lý lớn nhất, vốn tồn tại từ lâu đối với các trường hợp sử dụng đất không có giấy tờ. Điểm sáng đột phá của văn bản này nằm ở việc xác lập và khẳng định một nguyên lý quản lý vô cùng công bằng: Cơ quan quản lý nhà nước không thể tùy tiện quy trách nhiệm hay kết luận người dân có hành vi “sử dụng đất sai mục đích” hoặc “lấn chiếm đất” nếu bản thân cơ quan nhà nước không có sẵn các tài liệu, giấy tờ pháp lý ban đầu để làm hệ quy chiếu đối chiếu. Điều này đồng nghĩa với việc, sự thiếu hụt hoặc thất lạc hồ sơ quản lý của Nhà nước qua các thời kỳ không thể trở thành gánh nặng pháp lý hay rủi ro đẩy về phía người sử dụng đất.

 

Các bài viết cùng chủ đề
QUYẾT ĐỊNH 135/2026/QĐ-UBND: QUY ĐỊNH MỚI VỀ THỦ TỤC ĐẤT ĐAI TẠI ĐÀ NẴNG TỪ 05/10/2026
Ngày 24/9/2026, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đã ban hành Quyết định số 135/2026/QĐ-UBND. Theo đó Quyết định 135/2026/UBND quy định vụ...
Phân Tích Pháp Lý: Bản Án Số 36/2026/KDTM-ST
“Sẽ ra sao nếu một căn nhà hoặc quyền sử dụng đất đang được thế chấp tại ngân hàng được Nhà nước thu hồi để...
Phân Tích Pháp Lý: Bản Án Số 02/2026/HC-ST (Tố Tụng – Hành Chính Đất Đai)
Tòa án nhân dân khu vực 6, thành phố Đà Nẵng, vào ngày 23/4/2026 vừa qua đã ban hành Bản án sơ thẩm số 02/2026/HC-ST...
Phân Tích Pháp Lý: Bản Án Số 144/2026/DS-PT
Trong thực tiễn quản lý đất đai tại Việt Nam, một thực trạng khá phổ biến là tình trạng “Sổ đỏ vênh với thực tế...
Phân Tích Quyền Tiếp Cận Thông Tin Hồ Sơ Đất Đai Theo Công Văn 1829/QLĐĐ-TKKKTTĐĐ
Trong quá trình đi làm giấy tờ, thủ tục liên quan đến đất đai, không ít người gặp phải tình huống: Muốn xem lại phiếu...
Các Điểm Mới Nghị Định 281/2026/NĐ-CP Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Về Đất Đai
Vừa qua Chính phủ vừa ban hành Nghị định 281/2026/NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị...

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *