Công văn số 3033/QLĐĐ-KSQLSĐĐĐ được Cục Quản lý đất đai ban hành nhằm trả lời các phản ánh, kiến nghị của công dân liên quan đến việc áp dụng quy định chuyển tiếp tại Điều 35 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP và nguyên tắc cấm hồi tố. Theo phản ánh, một số công dân cho rằng việc áp dụng khoản 1 Điều 35 của Nghị định có dấu hiệu mâu thuẫn với nguyên tắc cấm hồi tố theo quy định của pháp luật. Để làm rõ vấn đề này, Công văn giải thích khoản 2 Điều 35 là quy định chuyển tiếp hướng dẫn cách xác định thời điểm bắt đầu tính khoản tiền phải nộp lại do người vi phạm thu được từ hành vi vi phạm đất đai, qua đó làm rõ việc áp dụng quy định này không làm phát sinh trách nhiệm pháp lý bất lợi đối với người vi phạm.
Nội Dung Phản Ánh, Kiến Nghị Của Công Dân
Sau khi Nghị định số 123/2024/NĐ-CP được ban hành, một số công dân đã gửi phản ánh, kiến nghị đến Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp. Nội dung phản ánh chủ yếu xoay quanh việc áp dụng khoản 1 Điều 35 của Nghị định này đối với các hành vi vi phạm đất đai xảy ra trước ngày Nghị định có hiệu lực nhưng sau đó mới bị phát hiện hoặc đang trong quá trình xem xét, giải quyết.
Có thể thấy, trọng tâm của các phản ánh không nằm ở việc phủ nhận toàn bộ Nghị định số 123/2024/NĐ-CP mà chủ yếu xoay quanh cách áp dụng quy định chuyển tiếp đối với các hành vi đã xảy ra trước thời điểm Nghị định có hiệu lực. Chính từ những phản ánh này, cơ quan chuyên môn đã có văn bản giải thích nhằm thống nhất cách hiểu khi áp dụng quy định chuyển tiếp.
- Xung đột pháp luật được chỉ ra
Công dân cho rằng khoản 1 Điều 35 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP có dấu hiệu xung đột với khoản 2 Điều 55 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025. Theo lập luận của người dân, việc sử dụng quy định mới để xử lý hành vi đã xảy ra trước thời điểm Nghị định có hiệu lực là chưa phù hợp với nguyên tắc về hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật.
- Nguyên tắc bị cho là vi phạm
Từ góc nhìn của người phản ánh, quy định chuyển tiếp nêu trên đã vi phạm nguyên tắc cấm hồi tố trong trường hợp làm phát sinh trách nhiệm pháp lý nặng hơn đối với hành vi đã thực hiện trong quá khứ. Họ cho rằng một văn bản mới không nên áp dụng đối với hành vi cũ nếu việc áp dụng đó dẫn đến mức xử phạt hoặc nghĩa vụ pháp lý cao hơn so với quy định trước đây.
- Hậu quả được công dân phản ánh
Công dân cho rằng việc áp dụng quy định mới có thể gây bất lợi cho người vi phạm vì mức xử phạt, nghĩa vụ tài chính và các biện pháp khắc phục hậu quả tại thời điểm hiện nay đã cao hơn đáng kể so với thời điểm xảy ra hành vi vi phạm. Nếu áp dụng các quy định của Nghị định số 123/2024/NĐ-CP để xử lý những hành vi xảy ra từ nhiều năm trước thì người dân có thể phải gánh chịu nghĩa vụ tài chính lớn hơn so với quy định áp dụng tại thời điểm vi phạm.
- Đề xuất của công dân
Từ những lập luận trên, công dân đã đề nghị Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) xem xét, rà soát và kiến nghị sửa đổi hoặc bãi bỏ quy định chuyển tiếp tại khoản 1 Điều 35 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP vì cho rằng quy định này có dấu hiệu mâu thuẫn với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và vượt quá phạm vi cho phép của nguyên tắc cấm hồi tố.
Lập Luận Và Cơ Sở Pháp Lý Phản Hồi Của Cục Quản Lý Đất Đai
Trước những phản ánh của công dân, Cục Quản lý đất đai đã viện dẫn các quy định của pháp luật hiện hành để giải thích về quy định chuyển tiếp tại Nghị định số 123/2024/NĐ-CP và xác định quy định này không trái với nguyên tắc cấm hồi tố. Từ các căn cứ mà Công văn viện dẫn có thể thấy, để xác định có hay không việc áp dụng pháp luật hồi tố cần phải xem xét bản chất của quy định chuyển tiếp, thay vì chỉ nhìn vào thời điểm xảy ra hành vi vi phạm.
- Về nguyên tắc cấm hồi tố
Cơ quan chức năng dẫn chiếu khoản 2 Điều 55 Luật Xử lý vi phạm hành chính để làm rõ phạm vi áp dụng của nguyên tắc cấm hồi tố. Theo quy định này, văn bản quy phạm pháp luật không được quy định hiệu lực trở về trước trong hai trường hợp: quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà trước đó pháp luật chưa quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn đối với hành vi đã xảy ra.
- Về quy định của Nghị định số 123/2024/NĐ-CP
Cục Quản lý đất đai viện dẫn khoản 2 Điều 35 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP về việc xác định thời gian phải nộp số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
- Theo khoản 2 Điều 35 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP: Xác định hành vi vi phạm xảy ra trước khi nghị định 123/2024/NĐ-CP có hiệu lực và sau khi có hiệu lực như sau:
Trường hợp 1: Vi phạm xảy ra TRƯỚC ngày Nghị định 123/2024/NĐ-CP có hiệu lực: Nếu hành vi vi phạm xảy ra từ trước, cơ quan chức năng sẽ đi tìm xem văn bản luật đầu tiên nào quy định “vi phạm lỗi này thì phải nộp lại tiền”. Ngày mà văn bản luật đầu tiên đó có hiệu lực chính là mốc bắt đầu để tính tiền, chứ không tính từ ngày người đó bắt đầu vi phạm.
Trường hợp 2: Vi phạm xảy ra SAU KHI quy định bắt nộp tiền đã có hiệu lực: Lúc người này vi phạm thì luật bắt nộp lại tiền đã có sẵn rồi, nên cơ quan chức năng cứ tính tiền trực tiếp từ ngày xảy ra hành vi vi phạm.
- Bản chất của quy định chuyển tiếp
Từ những căn cứ trên, Cục Quản lý đất đai cho rằng khoản 2 Điều 35 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP là quy định chuyển tiếp nhằm hướng dẫn cách xác định thời điểm tính số lợi bất hợp pháp đối với các hành vi vi phạm xảy ra trước ngày 04/10/2024. Theo cơ quan này, quy định trên không phải là việc áp dụng chế tài có hiệu lực trở về trước hay làm phát sinh trách nhiệm pháp lý nặng hơn đối với người vi phạm.
Có thể thấy, điểm mấu chốt của tranh luận không nằm ở việc cơ quan nhà nước áp dụng quy định mới đối với hành vi cũ, mà nằm ở cách xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp số lợi bất hợp pháp. Đây cũng là lý do Cục Quản lý đất đai cho rằng khoản 2 Điều 35 chỉ là quy định chuyển tiếp nhằm hướng dẫn cách xác định thời điểm tính nghĩa vụ tài chính, chứ không phải quy định có hiệu lực hồi tố.
Ví dụ minh họa: Chẳng hạn, một người có hành vi lấn, chiếm đất từ năm 2012 và tiếp tục sử dụng đất đến năm 2025 mới bị phát hiện. Tại thời điểm năm 2012, pháp luật chỉ quy định xử phạt hành vi lấn, chiếm đất mà chưa có biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp. Đến khi Nghị định số 91/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 05/01/2020, pháp luật mới chính thức bổ sung biện pháp này. Vì vậy, khi xử lý vụ việc, cơ quan có thẩm quyền không tính số lợi bất hợp pháp từ năm 2012 mà chỉ tính từ ngày 05/01/2020. Qua ví dụ này có thể thấy, quy định chuyển tiếp tại khoản 2 Điều 35 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP hướng dẫn cách xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp lại số lợi bất hợp pháp, chứ không áp dụng chế tài mới cho khoảng thời gian mà pháp luật chưa quy định nghĩa vụ này
Bảng Phân Tích Ví Dụ Áp Dụng Thực Tiễn Của Cơ Quan Nhà Nước
Để làm rõ vì sao quy định tại khoản 2 Điều 35 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP không vi phạm nguyên tắc cấm hồi tố, Cục Quản lý đất đai đã đưa ra ví dụ về việc xác định thời điểm tính số lợi bất hợp pháp đối với hành vi lấn, chiếm đất qua từng giai đoạn áp dụng pháp luật.
| Giai đoạn pháp lý | Chế tài xử lý hành vi lấn, chiếm đất | Căn cứ xác định |
| Thời điểm áp dụng Nghị định 105/2009/NĐ-CP | Có quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn, chiếm đất, nhưng biện pháp khắc phục hậu quả chưa quy định “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp”. | Căn cứ Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009. |
| Thời điểm áp dụng Nghị định 91/2019/NĐ-CP | Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính về đất đai mới bắt đầu quy định biện pháp “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm”. | Căn cứ Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019. |
| Mốc thời gian tính toán thực tế | Thời gian xác định số lợi bất hợp pháp phải nộp không lùi về lúc vi phạm, mà được tính bắt đầu từ ngày 05/01/2020 (tức là ngày Nghị định số 91/2019/NĐ-CP có hiệu lực). | Theo hướng dẫn chuyển tiếp tại Nghị định 123/2024/NĐ-CP. |
Qua cách giải thích này có thể thấy, cơ quan quản lý không áp dụng chế tài mới đối với toàn bộ khoảng thời gian vi phạm trước đây mà chỉ xác định nghĩa vụ tài chính kể từ thời điểm pháp luật bắt đầu quy định biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng. Đây cũng là cơ sở để xác định quy định chuyển tiếp không làm phát sinh trách nhiệm pháp lý nặng hơn đối với người vi phạm.
Từ đó, Công văn số 3033/QLĐĐ-KSQLSĐĐĐ kết luận khoản 2 Điều 35 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP là quy định chuyển tiếp nhằm hướng dẫn cách xác định thời điểm tính nghĩa vụ tài chính đối với các hành vi vi phạm xảy ra trước ngày 04/10/2024. Từ những căn cứ nêu trên, Cục Quản lý đất đai cho rằng, cách áp dụng này không làm phát sinh trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi đã xảy ra trước đây và cũng không trái với nguyên tắc cấm hồi tố của pháp luật Việt Nam.
Qua nội dung Công văn có thể thấy, điểm mấu chốt của vụ việc không nằm ở việc có áp dụng quy định mới đối với hành vi cũ hay không, mà nằm ở cách xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp số lợi bất hợp pháp. Theo cách giải thích của Cục Quản lý đất đai, quy định chuyển tiếp chỉ hướng dẫn phương pháp xác định thời gian tính nghĩa vụ tài chính, chứ không làm phát sinh trách nhiệm pháp lý mới hoặc tăng nặng trách nhiệm đối với hành vi đã xảy ra trước đây.
Có thể thấy, việc ban hành Công văn số 3033/QLĐĐ-KSQLSĐĐĐ góp phần thống nhất cách áp dụng quy định chuyển tiếp trong thực tiễn xử lý vi phạm hành chính về đất đai. Đồng thời, văn bản này cũng giúp làm rõ ranh giới giữa quy định chuyển tiếp và nguyên tắc cấm hồi tố, hạn chế những cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng pháp luật.
- Điện thoại: 0389 363 716
- Email: vanphongnguoihieuluat@gmail.com
- Fanpage: https://www.facebook.com/nguoihieuluat/
- Linked: https://www.linkedin.com/in/luatsutranductai/
- Reddit: https://www.reddit.com/user/AltruisticRadio8193/
- Kênh Youtube: https://www.youtube.com/@nguoihieuluat
- Kênh Tiktok: https://www.tiktok.com/@nguoihieuluat





